Với một nền kinh tế hàng năm vẫn phải vật lộn với nỗi lo nhập siêu lớn, gần 80% nguyên liệu, vật tư đầu vào của ngành công nghiệp là nhập khẩu và máy móc thiết bị thì hầu hết phải mua từ bên ngoài, tỷ giá giữa đồng Việt Nam và ngoại tệ luôn là yếu tố tác động lớn đến chi phí sản xuất.
Từ đầu năm 2010 đến nay, nỗi lo của doanh nghiệp không chỉ dừng ở vấn đề tỷ giá, khi giá cả hàng loạt sản phẩm, dịch vụ đầu vào quan trọng khác như điện đã tăng mạnh. Trong bối cảnh như vậy, ý định kiểm soát giá cả bằng biện pháp hành chính trở nên khó khả thi.
Ông Đặng Huy Hiệp, Phó tổng giám đốc Công ty Tôn Phương Nam, nói: “Dù muốn hay không, doanh nghiệp vẫn phải điều chỉnh giá sản phẩm theo thực tế, nhất là sức ép chi phí đang đến từ mọi hướng”. Với một doanh nghiệp thép không có khâu nhiệt luyện trong quy trình sản xuất, việc điều chỉnh giá điện vừa qua chỉ làm cho chi phí tăng thêm 1%. Nhưng giá nguyên liệu đầu vào thì thay đổi không ít như vậy. Từ đầu năm đến nay, giá phôi thép, chi phối trên 70% giá thành, đã tăng tới 15%, lên 540 đô la Mỹ/tấn và nhiều khả năng sẽ còn tăng nữa.
Đó là chưa kể tới tác động cộng hưởng của việc điều chỉnh tỷ giá và khó khăn chồng chất trong vấn đề mua ngoại tệ để nhập nguyên liệu. Ông Hiệp cho biết: “Hiện nay, mua được ngoại tệ theo tỷ giá chính thức là điều không tưởng”. Ngoài ra, chính sách thắt chặt tín dụng cũng đang đẩy lãi suất vay ngân hàng lên cao. “Vay được với lãi suất 16-17%/năm là quá giỏi, bằng không thì phải từ 18% trở lên”, ông Hiệp nói thêm.
Các doanh nghiệp nhựa cũng đang chịu những sức ép tương tự như ngành thép, cả về giá nguyên liệu nhập khẩu cho đến tỷ giá và lãi vay tín dụng. Tuy nhiên, sức ép mà ngành này đang gánh chịu còn nặng nề hơn, vì đến 90% nguyên liệu cung cấp cho các công ty nhựa phải nhập khẩu, trong khi thép chỉ có 40%.
Hơn nữa, nhựa còn bị ảnh hưởng khá nặng trong việc điều chỉnh giá điện. Ông Đào Duy Kha, Phó tổng giám đốc Công ty Nhựa Việt Nam, nói: “Trong lần điều chỉnh giá điện vừa qua, đối với ngành nhựa không chỉ tăng 6,8% như công bố của Bộ Công Thương, mà thực tế lên tới 9-10%”. Đặc điểm chung của ngành này là thiết bị phải vận hành liên tục 24/24 giờ, vì nếu ngừng máy sẽ tạo nhiều phế liệu, tốn kém tiền vệ sinh và rất nhiều điện năng để khởi động lại thiết bị. “Vào các giờ cao điểm, giá điện trước đây đã rất cao và hiện nay lên mức ngất ngưởng”, ông giải thích.
Cùng với thép, xi măng là một trong những mặt hàng nằm trong danh mục bình ổn giá. Đây cũng là ngành tiêu thụ nhiều năng lượng. Theo Hiệp hội Xi măng, việc điều chỉnh giá điện làm cho giá thành xi măng tăng khoảng 120.000 đồng/tấn, tương đương 10% giá bán lẻ trên thị trường. Bên cạnh điện, ngành này còn tiêu thụ lượng lớn than đá làm nhiên liệu cho lò nung, nên việc tập đoàn Than và Khoáng sản muốn điều chỉnh giá than lên sát với giá thị trường xuất khẩu đang gây lo lắng cho nhiều nhà sản xuất xi măng.
Không như nhiều ngành công nghiệp khác, xi măng hiện đã tự sản xuất được toàn bộ nguyên liệu, nên không còn phải lo về biến động giá nguyên liệu của thị trường thế giới và nguồn ngoại tệ để nhập khẩu. Nhưng điều đó không có nghĩa ngành này trút được mối bận tâm về nguồn ngoại tệ và vấn đề thay đổi tỷ giá. Trái lại, đây đang là cơn ác mộng của không ít doanh nghiệp. Chỉ hai năm qua, gần 20 dây chuyền sản xuất xi măng, với vốn đầu tư hàng trăm triệu đô la Mỹ/dây chuyền, đã đi vào hoạt động. Tăng tỷ giá làm cho chi phí đầu tư, tính theo đồng Việt Nam, tăng mạnh, dẫn đến chi phí khấu hao trong giá thành sản phẩm tăng.
Lãnh đạo một công ty xi măng cho biết, trong tình hình mọi chi phí đều tăng như vậy, các công ty xi măng sẽ sớm phải điều chỉnh giá.
Dù sao, các công ty xi măng, thép, nhựa không có được lợi thế như ngành điện và xăng dầu. Ông Đặng Huy Hiệp cho biết do ngành thép đang thừa công suất khá lớn, nên sức ép cạnh tranh giữa các doanh nghiệp rất lớn. Chính vì vậy, các công ty đều thận trọng, không dám tăng giá trước, vì lo sẽ mất khách hàng. Đây cũng là tình hình chung của các doanh nghiệp xi măng và nhựa.
Nhưng các doanh nghiệp cũng không thể chịu đựng mãi. Ông Đào Duy Kha cho rằng muốn doanh nghiệp bình ổn giá bán, Nhà nước không thể dùng biện pháp hành chính, mà phải sử dụng chính sách kinh tế. Chẳng hạn như thay đổi cách tính giá điện giờ cao điểm, bảo đảm cho doanh nghiệp có nhu cầu được mua ngoại tệ và vay tín dụng theo tỷ giá và lãi suất chính thức.
Riêng với ngành nhựa và thép, Nhà nước nên tạo điều kiện thuận tiện cho doanh nghiệp nhập phế liệu, nhằm hạ thấp tỷ lệ sử dụng nguyên liệu chính phẩm là giải pháp tốt để hạ giá thành. “Đáng tiếc là việc nhập phế liệu nhựa hầu như không thể thực hiện được do các tiêu chuẩn đặt ra quá ngặt nghèo”, ông Kha nói.