• |
VFMVF4 – Quỹ đầu tư Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam
Stocknews - 11/03/2010 4:55:00 CH        -
MÃ LIÊN QUAN
Giá Thay đổi
VFMVF4 3,50 2,94%
Quỹ đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VFMVF4 : HOSE) Quỹ đầu tư Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (VF4) là quỹ công chúng dạng đóng thứ 4 được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán (GDCK) Tp.HCM, huy động nguồn vốn từ cá nhân, pháp nhân trong và ngoài nước với quy mô vốn điều lệ hiện tại là 806,46 tỷ đồng, tương đương 80,646 triệu chứng chỉ quỹ (CCQ).

VF4 chủ yếu đầu tư vào những doanh nghiệp nằm trong Top 20 của ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp đó đang hoạt động và có vốn điều lệ tối thiểu là 150 tỷ đồng.

Quỹ đầu tư VF4 do Công ty Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) quản lý, thành lập vào tháng 2/2008 và có NAV là 10.000 đồng/CCQ. VF4 niêm yết tại Sở GDCK Tp.HCM vào tháng 6/2008 với mã VFMVF4. Ngân hàng giám sát là Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải (HSBC) - CN Tp.HCM. Đến ngày 4/3/2010, NAV của VF4 đạt 11.030 đồng/CCQ. Như vậy, sau gần 21 tháng, NAV tăng xấp xỉ 10,3%.

Hoạt động của VF4 từ năm 2008 đến nay

Tính đến ngày 31/12/2008, sau 10 tháng đi vào hoạt động, tổng tài sản ròng (NAV) của VF4 là 687,7 tỷ đồng, giảm 118,8 tỷ đồng so với mức vốn huy động, tương đương giảm 14,7%. Mức giảm này bằng khoảng 1/4 so với mức giảm của VN-Index (gần 60%).

Từ khi bắt đầu hoạt động, tổng giá trị giải ngân của VF4 là 802,3 tỷ đồng, tương đương 99,5% tổng vốn huy động. Các khoản giải ngân thực hiện vào 10 ngành, riêng các ngành vật liệu - khai khoáng, năng lượng và bán lẻ chiếm 50,5% tổng giá trị giải ngân. Cũng kể từ khi bắt đầu hoạt động, giá trị thanh hoán lũy kế của VF4 là 287,4 tỷ đồng, tương ứng 35,8% giá trị giải ngân trong năm 2008. Giá trị thanh hoán trong các quý II, III và IV/2008 chiếm lần lượt 31,9%, 17,2% và 50,9% tổng giá trị thanh hoán. Vào thời điểm 31/12/2008, thị trường chứng khoán giảm sâu, nên phần lớn khoản đầu tư của VF4 đều lỗ; tổng giá trị các khoản đầu tư của VF4 chiếm 49,7% NAV và ghi nhận mức sụt giảm thấp hơn mức sụt giảm của VN-Index 30,1%, hay nói cách khác, mức sụt giảm của các khoản đầu tư của VF4 chỉ tương đương 40% so với mức sụt giảm của thị trường lũy kế từ khi VF4 mới thành lập. Do vậy, chênh lệch giá cổ phiếu chưa thực hiện là 101,1 tỷ đồng và các khoản thanh hoán cổ phiếu ghi nhận lỗ là 71,1 tỷ đồng. Mặc dù vậy, NAV của VF4 trung bình giảm 60%, trong khi thị trường giảm tới 80%...

Theo số liệu từ VFM, NAV của VF4 tại ngày 31/12/2009 đạt 943,5 tỷ đồng, tương ứng 11.699 đồng/CCQ. Với mức NAV này, trong năm 2009, Quỹ mang lại 336,5 tỷ đồng lợi nhuận, nâng mức NAV lên cao hơn tổng vốn huy động 27%. Như vậy, VF4 tăng trưởng 48,9%, tương đương trên 85% và trên 80% so với mức tăng trưởng của VN-Index (56,8%) và HNX-Index (60,0%) trong cùng kỳ. Mức tăng trưởng này của VF4 cao hơn so với mức tăng trưởng của chỉ số tham chiếu (benchmark index) điều chỉnh theo cơ cấu danh mục của Quỹ (47,2%). Mức tăng trưởng của VF4 luôn cao hơn mức tăng trưởng của VN-Index và HNX-Index trung bình từ 50% đến 65%. Mức chênh lệch này đạt cao nhất trong tháng 9/2009 – 10/2009, khoảng 70%.

Mức chiết khấu giữa NAV so với giá thị trường được thu hẹp lại từ khoảng 55% vào cuối năm 2008 xuống 30% vào cuối năm 2009. Khối lượng giao dịch bình quân CCQ VF4 trên thị trường tăng từ 200.000 CCQ/ngày trong năm 2008 lên 650.000 CCQ/ngày trong năm 2009.  

Nguồn: VFM

Phân bổ tài sản

Điểm khác biệt cơ bản trong cơ cấu phân bổ tài sản của VF4 ngày 31/12/2009 so với ngày 31/12/2008 là tỷ trọng các khoản đầu tư tăng mạnh (từ mức 50% NAV lên mức 95% NAV) và tỷ trọng tiền mặt giảm mạnh (từ mức 50% NAV xuống mức 5% NAV) do trong năm 2009, VF4 về cơ bản hoàn thành quá trình giải ngân xây dựng danh mục.

Trong năm 2009, các khoản đầu tư vào cổ phiếu niêm yết vẫn là chủ đạo so với cổ phiếu chưa niêm yết, dưới 95% và trên 5% tổng giá trị các khoản đầu tư (so với 2008 là trên 90% và dưới 10%). Trong cơ cấu cổ phiếu chưa niêm yết, có một khoản đầu tư được phân loại lại thành cổ phiếu niêm yết do doanh nghiệp này niêm yết trên HoSE.

Nguồn: VFM

Cơ cấu danh mục đầu tư

Chênh lệch giữa giải ngân và thanh hoán trong năm 2009 thể hiện chiến lược tập trung tăng tỷ trọng cổ phiếu tăng trưởng và chu kỳ, đồng thời giảm tỷ trọng cổ phiếu phòng thủ. Danh mục đầu tư của VF4 đến cuối năm 2009 bao gồm 20 khoản đầu tư, tập trung vào 9 nhóm ngành (so với năm 2008: 14 khoản đầu tư, 9 nhóm ngành), trong đó đầu tư mới vào 3 cổ phiếu và thanh hoán hoàn toàn 1 cổ phiếu. 5 nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong NAV, chiếm 78,5% NAV và 83,3% tổng giá trị đầu tư (so với năm 2008: 34,8% NAV và 70,0% tổng giá trị đầu tư) bao gồm: Cơ sở hạ tầng – bất động sản (25,4%), vật liệu - khai khoáng (17,6%), ngân hàng – dịch vụ tài chính (17,3%), thực phẩm & nước giải khát (10,7%), bán lẻ (7,5%).

Trong 5 ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất, trong năm 2009, xuất hiện thêm ngành cơ sở hạ tầng – bất động sản và không bao gồm ngành năng lượng như trong cơ cấu năm 2008.

Nguồn: VFM

Tình hình giải ngân

Giải ngân cho mục tiêu xây dựng danh mục được tập trung trong 6 tháng đầu năm 2009. Giải ngân cho chiến lược mua/bán (trading) được thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2009 khi thị trường có nhiều biến động, đồng thời tính thanh khoản của thị trường cũng tăng mạnh, thuận lợi cho việc thực hiện chiến lược này.

Trong năm 2009, 3 ngành chiếm tỷ trọng giải ngân lớn nhất bao gồm: cơ sở hạ tầng – bất động sản, ngân hàng – dịch vụ tài chính và vật liệu – khai khoáng, là những ngành có sức bật mạnh trong giai đoạn hậu khủng hoảng (so với năm 2008 là vật liệu – khai khoáng, năng lượng và bán lẻ), chiếm 65,4% tổng giá trị giải ngân cho năm 2009 (so với 2008 là 50,5% tổng giá trị giải ngân cho cả năm 2008). 34,6% giá trị giải ngân được phân bổ vào 7 ngành còn lại. VF4 còn giải ngân thêm vào ngành thiết bị ôtô nhằm phục vụ cho chiến lược mua/bán.

Nguồn: VFM


Cổ phiếu niêm yết vẫn là đối tượng giải ngân chủ đạo, chiếm 97,7% giá trị đầu tư trong năm 2009 (2008: 96,0%), phần còn lại là giải ngân vào cổ phiếu chưa niêm yết.

Nguồn: VFM

Tình hình thanh hoán

Trong năm 2009, VF4 đẩy mạnh hoạt động mua/bán với vòng quay vốn đầu tư (portfolio turnover) gấp 2 lần năm 2008 (82,2% so với 39,6%). Giá trị thanh hoán trong năm 2009 đạt trên 75% giá trị giải ngân trong năm (so với năm 2008 là trên 35%) và gấp 2,6 lần giá trị thanh hoán trong năm 2008. Cả hai điều này thể hiện chiến lược mua/bán khi thị trường chứng khoán (TTCK) có nhiều biến động trong năm 2009, nhằm mang lại lợi nhuận ròng 149,5 tỷ cho danh mục.

Khoảng 70% tổng giá trị thanh hoán được thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2009. Cổ phiếu ngành vận tải được thanh hoán hoàn toàn (exit) do tăng trưởng thấp. Khoản thanh hoán ngành dược phẩm được thực hiện với mục tiêu đổi cổ phiếu tốt hơn cho danh mục.

Cũng trong năm 2009, VF4 thanh hoán chủ yếu cổ phiếu các ngành ngân hàng – dịch vụ tài chính, vật liệu – khai khoáng và cơ sở hạ tầng – bất động sản, với tỷ trọng khá đồng đều (mỗi ngành khoảng 17% tổng giá trị thanh hoán) (2008: Năng lượng, bán lẻ và vật liệu & khai khoáng, chiếm tổng cộng 67,5% giá trị thanh hoán 2008). Đây cũng là 3 ngành chiếm tỷ trọng giải ngân lớn nhất, nhằm mục tiêu mang lại chênh lệch giá cổ phiếu thực hiện việc thanh hoán tập trung vào cổ phiếu niêm yết.

Kết quả hoạt động

Nguồn: VFM


Năm 2009, lợi nhuận ròng đã thực hiện (bao gồm lợi nhuận từ chênh lệch giá cổ phiếu thực hiện, cổ tức, và lãi ngân hàng, trừ chi phí) chiếm 45% tổng lợi nhuận ròng, tương ứng 18,9% vốn điều lệ của Quỹ, phần còn lại là lợi nhuận chưa thực hiện. Tất cả các ngành trong danh mục đầu tư đều mang lại lợi nhuận trong năm 2009. 3 ngành có mức đóng góp lớn nhất vào lợi nhuận từ các khoản đầu tư (73,5%) là cơ sở hạ tầng – bất động sản, thực phẩm – nước giải khát, và ngân hàng – dịch vụ tài chính, với tỷ trọng 53,4% NAV và 56,7% tổng giá trị các khoản đầu tư, với mức lợi nhuận tổng cộng đạt 256,1 tỷ đồng.

Lợi nhuận của VF4 đạt 336,5 tỷ đồng trong năm 2009, từ chiến lược mua/bán (trading) mang lại 149,5 tỷ và từ chênh lệch giá chưa thực hiện mang lại 184,6 tỷ chủ yếu do giá thị trường tăng mạnh trong năm 2009. Khoản lợi nhuận thực hiện chiếm khoảng 45% lợi nhuận ròng, thấp hơn so với khoản lợi nhuận chưa thực hiện (chiếm 55% lợi nhuận ròng).

Tăng trưởng của danh mục đầu tư (94,1% NAV) và các khoản đầu tư vào cổ phiếu niêm yết (88,5% NAV), trong đó chủ yếu là các khoản đầu tư vào cổ phiếu trên sàn HoSE tăng trưởng gấp 1,2 lần so với mức tăng trưởng của VN-Index, do chiến lược mua/bán này đã tạo ra lợi nhuận trên vòng quay vốn lớn.

Nguồn: VFM


Các ngành đạt mức tăng trưởng tốt hơn so với thị trường bao gồm cơ sở hạ tầng – bất động sản, thực phẩm – nước giải khát, bán lẻ, và dịch vụ tài chính (chiếm 49,1% NAV và 52,2% tổng giá trị các khoản đầu tư) là những ngành được VF4 thực hiện chiến lược mua/bán (trading) mạnh.

Nguồn: VFM


Sang năm 2010, TTCK Việt Nam tiếp tục điều chỉnh giảm trong tháng 1. Giá trị tài sản ròng của VF4 (NAV/CCQ) giảm 3,1% so với tháng 12/2009, gấp 1,2 lần và tương đương 0,7 lần so với mức giảm của VN-Index (2,6%) và HNX-Index (4,7%). Song, VF4 vẫn đạt mức tăng trưởng 23,1% kể từ khi hoạt động; trong khi VN-Index và HNX-Index giảm tương ứng 28,9% và 31% cũng so với thời điểm này.

Cùng thời điểm trên, giá trị thanh hoán ròng (thanh hoán – giải ngân) đạt 21,2 tỷ đồng, cộng thêm yếu tố giá trị thị trường giảm trong tháng, dẫn đến tỷ trọng các khoản đầu tư, chủ yếu là các khoản đầu tư vào cổ phiếu niêm yết giảm  nhẹ, từ mức 88,5% NAV ngày 31/12/2009 xuống mức 88,3% NAV ngày 31/01/2010, và tỷ trọng tiền mặt tăng từ 5,9% NAV vào cuối tháng 12/2009 lên 6,1% NAV vào cuối tháng 1/2010. Hoạt động giao dịch chứng chỉ quỹ VF4 cũng giảm sút, trong đó, tổng khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch của VF4 giảm gần 2 lần so với tháng 12, chỉ đạt 45.539 tỷ đồng. Giá giao dịch của mỗi CCQ VF4 vào ngày giao dịch cuối cùng trong tháng 1 giảm mạnh còn 8.300 đồng/CCQ, tỷ lệ chiết khấu giữa giá giao dịch và giá trị tài sản ròng trên một đơn vị quỹ đã tăng trở lại ở mức là 32,6%.

Ba ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục trong tháng 1/2010 không thay đổi so với tháng 12/2009. Tuy nhiên trong 3 ngành này, 2 ngành cơ sở hạ tầng - bất động sản và vật liệu – khai khoáng có tỷ trọng tăng do chiến lược giải ngân vào cổ phiếu tiềm năng ngành ngân hàng – dịch vụ tài chính có tỷ trọng giảm. Tính đến tháng 1/2010, VF4 sở hữu tổng cộng 23 khoản đầu tư vào cổ phiếu trong 9 nhóm ngành (so với tháng 12/2009 là 20 khoản đầu tư trong 10 nhóm ngành), trong đó, 3 nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất (61,0% NAV và 64,9% tổng giá trị các khoản đầu tư) bao gồm: Cơ sở hạ tầng & bất động sản (27,2%), vật liệu & khai khoáng (18,5%), ngân hàng & dịch vụ tài chính (15,2%).

Cơ cấu đầu tư của Quỹ đầu tư VF4 hiện được phân bổ như sau:

- 70% tổng giá trị tài sản sẽ được đầu tư vào cổ phần của các công ty đại chúng chưa niêm yết, cổ phần của các tổ chức phát hành riêng lẻ, các doanh nghiệp lớn của nhà nước được cổ phần hóa, các tài sản tài chính khác. Việc đầu tư vào cổ phần của các tổ chức phát hành riêng lẻ và các tài sản tài chính khác sẽ không vượt quá 10% tổng giá trị tài sản của Quỹ.

- 25% sẽ được đầu tư vào những doanh nghiệp niêm yết và đang giao dịch trên thị trường chứng khoán.

- 5% còn lại sẽ được đầu tư dưới dạng tài sản và công cụ tiền tệ khác.

Nguồn: VMF,


Năm cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong danh mục của VF4 là VNM, SJS, HAG, ACB và PVF. Hiện, quỹ này gần như đã giải ngân hết. Tiền mặt của VF4 là 8,4% giá trị tài sản. Kể từ đầu năm 2010 tới 9/3/2010, VN-Index tăng 2,9%, trong khi NAV của VF4 giảm xấp xỉ 3,5%. Trong thời gian tới, VF4 vẫn sẽ tập trung vào các blue-chips có kết quả sản xuất kinh doanh ổn định, đồng thời duy trì tỷ lệ tiền mặt linh hoạt theo biến động thị trường từ 2% đến 20%...

Mai Khang
Tin mới hơn
16:33 GSP: Bản cáo bạch niêm yết lần đầu và phụ lục
16:30 VGP: Báo cáo tài chính quý IV/2011
16:30 KSD: Giải trình báo cáo tài chính quý IV năm 2011
16:24 IFS: Giao dịch cổ phiếu (chưa niêm yết) của tổ chức và người có liên quan đến cổ đông nội bộ
16:14 EVE: Thông báo điều chỉnh tỷ lệ room của nhà đầu tư nước ngoài
15:45 PXT: Thông báo Nghị quyết Hội đồng quản trị mua cổ phiếu quỹ
15:45 MBB: Điều chỉnh thời gian đăng ký đặt mua cổ phiếu
15:44 FDC: Thông báo giao dịch cổ phiếu của Người có liên quan đến CĐNB Tô Mỹ Hà
15:42 FDC: Thông báo giao dịch cổ phiếu của Người có liên quan đến CĐNB Lương Thị Thu Hương
15:36 DHC: Thông báo giao dịch cổ phiếu của CĐNB Lữ Tấn Ninh
Tin cũ hơn
11/03 BMP: Vi phạm CBTT của cổ đông lớn
11/03 PET: Vi phạm CBTT của cổ đông nội bộ
11/03 SAF: Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2009
11/03 LGL: Giao dịch quyền mua cổ phiếu của tổ chức liên quan đến cổ đông nội bộ
11/03 TMT: Gia hạn giấy chứng nhận chào bán cổ phiếu ra công chúng
11/03 PIT: Giao dịch cổ phiếu của cổ đông nội bộ
11/03 CSG: Kết quả giao dịch cổ phiếu quỹ
11/03 SGD: Đã mua lại 100.000 cổ phiếu làm cổ phiếu quỹ
11/03 TLH: Niêm yết và ngày giao dịch đầu tiên
11/03 APC: Ngày đăng ký cuối cùng chốt danh sách cổ đông
Tin tức quan trọng
Copyright © 2000-2011 Công ty Cổ phần Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam