Quỹ đầu tư Doanh nghiệp Hàng đầu Việt Nam (VFMVF4 : HOSE) Quỹ đầu tư Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (VF4) là quỹ
công chúng dạng đóng thứ 4 được niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán
(GDCK) Tp.HCM, huy động nguồn vốn từ cá nhân, pháp nhân trong và ngoài
nước với quy mô vốn điều lệ hiện tại là 806,46 tỷ đồng, tương đương
80,646 triệu chứng chỉ quỹ (CCQ).
VF4
chủ yếu đầu tư vào những doanh nghiệp nằm trong Top 20 của ngành, lĩnh
vực mà doanh nghiệp đó đang hoạt động và có vốn điều lệ tối thiểu là 150
tỷ đồng.
Quỹ đầu tư VF4 do Công ty
Quản lý quỹ đầu tư Việt Nam (VFM) quản lý, thành lập vào tháng 2/2008
và có NAV là 10.000 đồng/CCQ. VF4 niêm yết tại Sở GDCK Tp.HCM vào tháng
6/2008 với mã VFMVF4. Ngân hàng giám sát là Ngân hàng Hồng Kông Thượng
Hải (HSBC) - CN Tp.HCM. Đến ngày 4/3/2010, NAV của VF4 đạt 11.030
đồng/CCQ. Như vậy, sau gần 21 tháng, NAV tăng xấp xỉ 10,3%.
Hoạt động của VF4
từ năm 2008 đến nay
Tính đến ngày 31/12/2008,
sau 10 tháng đi vào hoạt động, tổng tài sản ròng (NAV) của VF4 là 687,7
tỷ đồng, giảm 118,8 tỷ đồng so với mức vốn huy động, tương đương giảm
14,7%. Mức giảm này bằng khoảng 1/4 so với mức giảm của VN-Index (gần
60%).
Từ khi bắt đầu hoạt động,
tổng giá trị giải ngân của VF4 là 802,3 tỷ đồng, tương đương 99,5% tổng
vốn huy động. Các khoản giải ngân thực hiện vào 10 ngành, riêng các
ngành vật liệu - khai khoáng, năng lượng và bán lẻ chiếm 50,5% tổng giá
trị giải ngân. Cũng kể từ khi bắt đầu hoạt động, giá trị thanh hoán lũy
kế của VF4 là 287,4 tỷ đồng, tương ứng 35,8% giá trị giải ngân trong năm
2008. Giá trị thanh hoán trong các quý II, III và IV/2008 chiếm lần
lượt 31,9%, 17,2% và 50,9% tổng giá trị thanh hoán. Vào thời điểm
31/12/2008, thị trường chứng khoán giảm sâu, nên phần lớn khoản đầu tư
của VF4 đều lỗ; tổng giá trị các khoản đầu tư của VF4 chiếm 49,7% NAV và
ghi nhận mức sụt giảm thấp hơn mức sụt giảm của VN-Index 30,1%, hay nói
cách khác, mức sụt giảm của các khoản đầu tư của VF4 chỉ tương đương
40% so với mức sụt giảm của thị trường lũy kế từ khi VF4 mới thành lập.
Do vậy, chênh lệch giá cổ phiếu chưa thực hiện là 101,1 tỷ đồng và các
khoản thanh hoán cổ phiếu ghi nhận lỗ là 71,1 tỷ đồng. Mặc dù vậy, NAV
của VF4 trung bình giảm 60%, trong khi thị trường giảm tới 80%...
Theo số liệu từ VFM, NAV
của VF4 tại ngày 31/12/2009 đạt 943,5 tỷ đồng, tương ứng 11.699
đồng/CCQ. Với mức NAV này, trong năm 2009, Quỹ mang lại 336,5 tỷ đồng
lợi nhuận, nâng mức NAV lên cao hơn tổng vốn huy động 27%. Như vậy, VF4
tăng trưởng 48,9%, tương đương trên 85% và trên 80% so với mức tăng
trưởng của VN-Index (56,8%) và HNX-Index (60,0%) trong cùng kỳ. Mức tăng
trưởng này của VF4 cao hơn so với mức tăng trưởng của chỉ số tham chiếu
(benchmark index) điều chỉnh theo cơ cấu danh mục của Quỹ (47,2%). Mức
tăng trưởng của VF4 luôn cao hơn mức tăng trưởng của VN-Index và
HNX-Index trung bình từ 50% đến 65%. Mức chênh lệch này đạt cao nhất
trong tháng 9/2009 – 10/2009, khoảng 70%.
Mức chiết khấu giữa NAV
so với giá thị trường được thu hẹp lại từ khoảng 55% vào cuối năm 2008
xuống 30% vào cuối năm 2009. Khối lượng giao dịch bình quân CCQ VF4 trên
thị trường tăng từ 200.000 CCQ/ngày trong năm 2008 lên 650.000 CCQ/ngày
trong năm 2009.
 |
|
Nguồn: VFM |
Phân
bổ tài sản
Điểm khác biệt cơ bản
trong cơ cấu phân bổ tài sản của VF4 ngày 31/12/2009 so với ngày
31/12/2008 là tỷ trọng các khoản đầu tư tăng mạnh (từ mức 50% NAV lên
mức 95% NAV) và tỷ trọng tiền mặt giảm mạnh (từ mức 50% NAV xuống mức 5%
NAV) do trong năm 2009, VF4 về cơ bản hoàn thành quá trình giải ngân
xây dựng danh mục.
Trong năm 2009, các khoản
đầu tư vào cổ phiếu niêm yết vẫn là chủ đạo so với cổ phiếu chưa niêm
yết, dưới 95% và trên 5% tổng giá trị các khoản đầu tư (so với 2008 là
trên 90% và dưới 10%). Trong cơ cấu cổ phiếu chưa niêm yết, có một khoản
đầu tư được phân loại lại thành cổ phiếu niêm yết do doanh nghiệp này
niêm yết trên HoSE.
 |
|
Nguồn: VFM |
Cơ cấu danh mục đầu tư
Chênh lệch giữa giải ngân
và thanh hoán trong năm 2009 thể hiện chiến lược tập trung tăng tỷ
trọng cổ phiếu tăng trưởng và chu kỳ, đồng thời giảm tỷ trọng cổ phiếu
phòng thủ. Danh mục đầu tư của VF4 đến cuối năm 2009 bao gồm 20 khoản
đầu tư, tập trung vào 9 nhóm ngành (so với năm 2008: 14 khoản đầu tư, 9
nhóm ngành), trong đó đầu tư mới vào 3 cổ phiếu và thanh hoán hoàn toàn 1
cổ phiếu. 5 nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong NAV, chiếm 78,5%
NAV và 83,3% tổng giá trị đầu tư (so với năm 2008: 34,8% NAV và 70,0%
tổng giá trị đầu tư) bao gồm: Cơ sở hạ tầng – bất động sản (25,4%), vật
liệu - khai khoáng (17,6%), ngân hàng – dịch vụ tài chính (17,3%), thực
phẩm & nước giải khát (10,7%), bán lẻ (7,5%).
Trong 5 ngành chiếm tỷ
trọng lớn nhất, trong năm 2009, xuất hiện thêm ngành cơ sở hạ tầng – bất
động sản và không bao gồm ngành năng lượng như trong cơ cấu năm 2008.
 |
|
Nguồn: VFM |
Tình hình giải ngân
Giải ngân cho mục tiêu
xây dựng danh mục được tập trung trong 6 tháng đầu năm 2009. Giải ngân
cho chiến lược mua/bán (trading) được thực hiện trong 6 tháng cuối năm
2009 khi thị trường có nhiều biến động, đồng thời tính thanh khoản của
thị trường cũng tăng mạnh, thuận lợi cho việc thực hiện chiến lược này.
Trong năm 2009, 3 ngành
chiếm tỷ trọng giải ngân lớn nhất bao gồm: cơ sở hạ tầng – bất động sản,
ngân hàng – dịch vụ tài chính và vật liệu – khai khoáng, là những ngành
có sức bật mạnh trong giai đoạn hậu khủng hoảng (so với năm 2008 là vật
liệu – khai khoáng, năng lượng và bán lẻ), chiếm 65,4% tổng giá trị
giải ngân cho năm 2009 (so với 2008 là 50,5% tổng giá trị giải ngân cho
cả năm 2008). 34,6% giá trị giải ngân được phân bổ vào 7 ngành còn lại.
VF4 còn giải ngân thêm vào ngành thiết bị ôtô nhằm phục vụ cho chiến
lược mua/bán.
 |
|
Nguồn: VFM |
Cổ phiếu
niêm yết vẫn là đối tượng giải ngân chủ đạo, chiếm 97,7% giá trị đầu tư
trong năm 2009 (2008: 96,0%), phần còn lại là giải ngân vào cổ phiếu
chưa niêm yết.
 |
|
Nguồn: VFM |
Tình hình thanh hoán
Trong năm 2009, VF4 đẩy
mạnh hoạt động mua/bán với vòng quay vốn đầu tư (portfolio turnover) gấp
2 lần năm 2008 (82,2% so với 39,6%). Giá trị thanh hoán trong năm 2009
đạt trên 75% giá trị giải ngân trong năm (so với năm 2008 là trên 35%)
và gấp 2,6 lần giá trị thanh hoán trong năm 2008. Cả hai điều này thể
hiện chiến lược mua/bán khi thị trường chứng khoán (TTCK) có nhiều biến
động trong năm 2009, nhằm mang lại lợi nhuận ròng 149,5 tỷ cho danh mục.
Khoảng 70% tổng giá trị
thanh hoán được thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2009. Cổ phiếu ngành
vận tải được thanh hoán hoàn toàn (exit) do tăng trưởng thấp. Khoản
thanh hoán ngành dược phẩm được thực hiện với mục tiêu đổi cổ phiếu tốt
hơn cho danh mục.
Cũng trong năm 2009, VF4
thanh hoán chủ yếu cổ phiếu các ngành ngân hàng – dịch vụ tài chính, vật
liệu – khai khoáng và cơ sở hạ tầng – bất động sản, với tỷ trọng khá
đồng đều (mỗi ngành khoảng 17% tổng giá trị thanh hoán) (2008: Năng
lượng, bán lẻ và vật liệu & khai khoáng, chiếm tổng cộng 67,5% giá
trị thanh hoán 2008). Đây cũng là 3 ngành chiếm tỷ trọng giải ngân lớn
nhất, nhằm mục tiêu mang lại chênh lệch giá cổ phiếu thực hiện việc
thanh hoán tập trung vào cổ phiếu niêm yết.
Kết quả hoạt động
 |
|
Nguồn: VFM |
Năm 2009, lợi nhuận ròng đã thực hiện (bao
gồm lợi nhuận từ chênh lệch giá cổ phiếu thực hiện, cổ tức, và lãi ngân
hàng, trừ chi phí) chiếm 45% tổng lợi nhuận ròng, tương ứng 18,9% vốn
điều lệ của Quỹ, phần còn lại là lợi nhuận chưa thực hiện. Tất cả các
ngành trong danh mục đầu tư đều mang lại lợi nhuận trong năm 2009. 3
ngành có mức đóng góp lớn nhất vào lợi nhuận từ các khoản đầu tư (73,5%)
là cơ sở hạ tầng – bất động sản, thực phẩm – nước giải khát, và ngân
hàng – dịch vụ tài chính, với tỷ trọng 53,4% NAV và 56,7% tổng giá trị
các khoản đầu tư, với mức lợi nhuận tổng cộng đạt 256,1 tỷ đồng.
Lợi nhuận của VF4 đạt
336,5 tỷ đồng trong năm 2009, từ chiến lược mua/bán (trading) mang lại
149,5 tỷ và từ chênh lệch giá chưa thực hiện mang lại 184,6 tỷ chủ yếu
do giá thị trường tăng mạnh trong năm 2009. Khoản lợi nhuận thực hiện
chiếm khoảng 45% lợi nhuận ròng, thấp hơn so với khoản lợi nhuận chưa
thực hiện (chiếm 55% lợi nhuận ròng).
Tăng trưởng của danh mục
đầu tư (94,1% NAV) và các khoản đầu tư vào cổ phiếu niêm yết (88,5%
NAV), trong đó chủ yếu là các khoản đầu tư vào cổ phiếu trên sàn HoSE
tăng trưởng gấp 1,2 lần so với mức tăng trưởng của VN-Index, do chiến
lược mua/bán này đã tạo ra lợi nhuận trên vòng quay vốn lớn.
 |
|
Nguồn: VFM |
Các
ngành đạt mức tăng trưởng tốt hơn so với thị trường bao gồm cơ sở hạ
tầng – bất động sản, thực phẩm – nước giải khát, bán lẻ, và dịch vụ tài
chính (chiếm 49,1% NAV và 52,2% tổng giá trị các khoản đầu tư) là những
ngành được VF4 thực hiện chiến lược mua/bán (trading) mạnh.
 |
|
Nguồn: VFM |
Sang năm 2010, TTCK Việt Nam tiếp tục điều
chỉnh giảm trong tháng 1. Giá trị tài sản ròng của VF4 (NAV/CCQ) giảm
3,1% so với tháng 12/2009, gấp 1,2 lần và tương đương 0,7 lần so với mức
giảm của VN-Index (2,6%) và HNX-Index (4,7%). Song, VF4 vẫn đạt mức
tăng trưởng 23,1% kể từ khi hoạt động; trong khi VN-Index và HNX-Index
giảm tương ứng 28,9% và 31% cũng so với thời điểm này.
Cùng thời điểm trên, giá
trị thanh hoán ròng (thanh hoán – giải ngân) đạt 21,2 tỷ đồng, cộng thêm
yếu tố giá trị thị trường giảm trong tháng, dẫn đến tỷ trọng các khoản
đầu tư, chủ yếu là các khoản đầu tư vào cổ phiếu niêm yết giảm nhẹ, từ
mức 88,5% NAV ngày 31/12/2009 xuống mức 88,3% NAV ngày 31/01/2010, và tỷ
trọng tiền mặt tăng từ 5,9% NAV vào cuối tháng 12/2009 lên 6,1% NAV vào
cuối tháng 1/2010. Hoạt động giao dịch chứng chỉ quỹ VF4 cũng giảm sút,
trong đó, tổng khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch của VF4 giảm
gần 2 lần so với tháng 12, chỉ đạt 45.539 tỷ đồng. Giá giao dịch của mỗi
CCQ VF4 vào ngày giao dịch cuối cùng trong tháng 1 giảm mạnh còn 8.300
đồng/CCQ, tỷ lệ chiết khấu giữa giá giao dịch và giá trị tài sản ròng
trên một đơn vị quỹ đã tăng trở lại ở mức là 32,6%.
Ba ngành chiếm tỷ trọng
lớn nhất trong danh mục trong tháng 1/2010 không thay đổi so với tháng
12/2009. Tuy nhiên trong 3 ngành này, 2 ngành cơ sở hạ tầng - bất động
sản và vật liệu – khai khoáng có tỷ trọng tăng do chiến lược giải ngân
vào cổ phiếu tiềm năng ngành ngân hàng – dịch vụ tài chính có tỷ trọng
giảm. Tính đến tháng 1/2010, VF4 sở hữu tổng cộng 23 khoản đầu tư vào cổ
phiếu trong 9 nhóm ngành (so với tháng 12/2009 là 20 khoản đầu tư trong
10 nhóm ngành), trong đó, 3 nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất (61,0%
NAV và 64,9% tổng giá trị các khoản đầu tư) bao gồm: Cơ sở hạ tầng &
bất động sản (27,2%), vật liệu & khai khoáng (18,5%), ngân hàng
& dịch vụ tài chính (15,2%).
Cơ cấu đầu tư của
Quỹ đầu tư VF4 hiện được phân bổ như sau:
- 70% tổng giá trị tài
sản sẽ được đầu tư vào cổ phần của các công ty đại chúng chưa niêm yết,
cổ phần của các tổ chức phát hành riêng lẻ, các doanh nghiệp lớn của nhà
nước được cổ phần hóa, các tài sản tài chính khác. Việc đầu tư vào cổ
phần của các tổ chức phát hành riêng lẻ và các tài sản tài chính khác sẽ
không vượt quá 10% tổng giá trị tài sản của Quỹ.
- 25% sẽ được đầu tư vào
những doanh nghiệp niêm yết và đang giao dịch trên thị trường chứng
khoán.
- 5% còn lại sẽ được đầu
tư dưới dạng tài sản và công cụ tiền tệ khác.
 |
|
Nguồn:
VMF,
|
Năm cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
danh mục của VF4 là VNM, SJS, HAG, ACB và PVF. Hiện, quỹ này gần như đã
giải ngân hết. Tiền mặt của VF4 là 8,4% giá trị tài sản. Kể từ đầu năm
2010 tới 9/3/2010, VN-Index tăng 2,9%, trong khi NAV của VF4 giảm xấp xỉ
3,5%. Trong thời gian tới, VF4 vẫn sẽ tập trung vào các blue-chips có
kết quả sản xuất kinh doanh ổn định, đồng thời duy trì tỷ lệ tiền mặt
linh hoạt theo biến động thị trường từ 2% đến 20%...
Mai
Khang