Thoáng tính trong chi tiêu, không quá cầu kỳ trong chế biến các món ăn, sức tiêu thụ lớn và ổn định là những ưu điểm thu hút các nhà cung cấp tôm cho thị trường Bắc Mỹ này. Tuy nhiên, để đứng vững trên thị trường rộng lớn này cần phải có nhiều nỗ lực từ phía doanh nghiệp.
Mỹ là nước đứng đầu thế giới về tổng sản phẩm quốc nội (GDP) với trên 14,4 tỉ USD và là nước đông dân thứ 3 trên thế giới với trên 300 triệu dân, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ với thu nhập trung bình của người dân khoảng 50.000 USD/năm. Mỹ từ nhiều năm nay đã trở thành thị trường “màu mỡ” đối với nhiều nước xuất khẩu tôm lớn trên thế giới.
Theo thống kê của Cục Quản lý Nghề cá Biển quốc gia Mỹ (NMFS), người Mỹ tiêu thụ trên 7,3 kg thủy sản/năm. Trong đó, tôm chiếm ¼ tổng tiêu thụ thủy sản với 1,85 kg/người/năm (Số liệu năm 2007)
Năm 2009, có tới hơn 50 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu tôm sang Mỹ nhưng 10 nước cung cấp hàng đầu gồm Thái Lan, Inđônêxia, Êcuađo, Việt Nam, Trung Quốc, Mêhicô, Malaixia, Ấn Độ, Bănglađét và Guyana chiếm trên 92% thị phần tổng nguồn cung này. Sự cạnh tranh giành thị phần từ các nhà cung cấp này rất gắt gao.
Ngoài ra, Mỹ còn nổi tiếng với các cơ chế và biện pháp bảo hộ các ngành sản xuất trong nước. Trước sự gia tăng mạnh mẽ của tôm nhập khẩu, trong khi nguồn cung tôm nội địa (chủ yếu là tôm khai thác) lại rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 10% tổng nguồn cung tôm cho thị trường này, năm 2005, chính phủ Mỹ đã chính thức áp thuế chống bán phá giá (CBPG) tôm đối với 5 nước gồm Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Braxin và Việt Nam. Thuế CBPG đã thực sự trở thành rào cản lớn đối với nhiều doanh nghiệp xuất khẩu tôm của các nước này. Các doanh nghiệp muốn xuất khẩu tôm sang Mỹ không những phải chịu mức thuế CBPG cao mà họ còn phải tuân thủ qui định đóng ký quỹ bond (đặt cọc trước tiền thuế).
Sau 5 năm, Mỹ tiến hành xem xét thuế chống bán phá giá này để xem nên tiếp tục hay có thể ngừng áp dụng biện pháp này. Ngày 17/5/2010, Bộ Thương mại Mỹ chính thức tuyên bố giữ nguyên thuế CBPG đối với 4 nước gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Braxin. Đối với Việt Nam, vẫn chưa có kết luận chính thức.
Như vậy, cánh cửa cho tôm nhập khẩu vào Mỹ tiếp tục “khép lại” và thậm chí còn “co hẹp” nữa khi chính quyền Mỹ hối thúc các cơ quan quản lý thực phẩm tăng cường thanh tra, kiểm soát và giám sát an toàn vệ sinh thủy sản. Mới đây, Ủy ban Ngân sách thuộc Hạ viện Mỹ hối thúc Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA), hợp tác với các chương trình kiểm nghiệm liên bang để xây dựng một chương trình tăng cường thanh tra các chất kháng sinh cấm trong tôm nhập khẩu.